Báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng 5 năm (2010- 2015), phương hướng, nhiệm vụ 2015- 2020

BÁO CÁO TỔNG KẾT PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC
VÀ CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG 5 NĂM (2010 - 2015)
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ 2015 - 2020 CỦA BCH TRUNG ƯƠNG HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
   HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
                        *
           Số  68 -  BC/HNDTW
 
Hà Nội, ngày 21 tháng 8 năm 2015 
 
 

BÁO CÁO
TỔNG KẾT PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC 
VÀ CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG 5 NĂM (2010 - 2015)
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ 2015 - 2020
 ----------------------

Trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, tình trạng biến đổi khí hậu, thiên tai lũ lụt, hạn hán kéo dài đã tác động không nhỏ tới phát triển kinh tế, ổn định xã hội và đời sống cán bộ, hội viên, nông dân. Tuy nhiên, với tinh thần “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”; trong 5 năm qua, phong trào thi đua yêu nước đã được các cấp Hội Nông dân Việt Nam tập trung triển khai chỉ đạo, gắn công tác thi đua với các hoạt động chính trị - văn hóa - xã hội,  với sản xuất và đời sống của cán bộ, hội viên, nông dân; đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của đất nước, ổn định kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.


Cùng với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước năm 2015; Đại hội Thi đua yêu nước và biểu dương “Nông dân điển hình tiên tiến” toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IV có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá phong trào thi đua và công tác khen thưởng của Hội Nông dân Việt Nam trong 5 năm qua; biểu dương, khen thưởng, tôn vinh những tấm gương tiêu biểu xuất sắc của phong trào thi đua yêu nước của nông dân và đề ra phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng, tạo khí thế thi đua mới trong toàn hệ thống Hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh của đất nước trong giai đoạn 2015 - 2020 với chủ đề“Đoàn kết, năng động, sáng tạo, tích cực thi đua xây dựng giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam phát triển toàn diện”.

 
Phần thứ nhất
KẾT QUẢ CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 5 NĂM (2010 - 2015)
 
I. CÔNG TÁC LÃNH  ĐẠO, CHỈ ĐẠO, ĐỔI MỚI TỔ CHỨC CÁC PHONG TRÀO THI ĐUA
1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo
Quán triệt sâu sắc Chỉ thị 39/CT-TW ngày 21/5/2004 của Bộ chính trị về việc “Tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”, Chỉ thị 34/CT-TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt các văn bản quy phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng trong các cấp Hội, đồng thời cụ thể hóa vào công tác Hội và phong trào nông dân. Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo phong trào thi đua theo phương châm thi đua để thúc đẩy việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Hội, thi đua phải hướng về cơ sở, tạo điều kiện để các cấp Hội đổi mới, chủ động trong đăng ký, triển khai thực hiện nội dung thi đua. Ban Thường vụ Trung ương Hội đã ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về công tác thi đua, khen thưởng phù hợp với các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và thực tiễn tổ chức, hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam. Trong 5 năm qua, đã xây dựng và ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị 34 của Bộ Chính trị; sửa đổi, bổ sung Quy định về thi đua, khen thưởng của Hội Nông dân Việt Nam, Quy chế xét tặng Kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam” theo quy định mới của luật, nghị định, thông tư hướng dẫn; Ban hành Chỉ thị phát động đợt thi đua đặc biệt từ năm 2015 đến năm 2016 chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; Hội nghị điển hình tiên tiến các cấp tiến tới Đại hội thi đua yêu nước và biểu dương “Nông dân điển hình tiên tiến” toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IV; Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX và Kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2015. Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tích cực, chủ động ký kết và thực hiện chương trình phối hợp với Ban Thi đua khen thưởng Trung ương; Hội Nông dân và Ban Thi đua - Khen thưởng các tỉnh, thành phố ký kết chương trình phối hợp về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và phát hiện, biểu dương, khen thưởng các điển hình tiên tiến giai đoạn 2013 - 2018.


Trên cơ sở đó, hàng năm đã ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện, phát động thi đua theo đợt, theo chuyên đề nhân các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng  của đất nước, của Hội gắn với nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm của Hội theo từng năm, từng giai đoạn. Các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội về thực hiện các chương trình, nhiệm vụ công tác của Hội hàng năm đều gắn với công tác thi đua, khen thưởng. Coi đó là giải pháp quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội nhằm khuyến khích, phát huy nội lực, ý thức trách nhiệm, vai trò chủ thể của cán bộ, hội viên, nông dân thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của Hội.  

Căn cứ nội dung hoạt động, chương trình công tác, Ban Thường vụ Trung ương Hội đã xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu thi đua đối với từng cấp Hội. Việc tổ chức kiểm tra, theo dõi, đôn đốc, đánh giá phong trào thi đua được duy trì thường xuyên, là căn cứ cho việc bình xét, xếp loại các danh hiệu thi đua hàng năm. Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội, các cấp Hội đã triển khai nghiêm túc với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, thiết thực, hiệu quả. Tổ chức hội nghị quán triệt, tập huấn về văn bản pháp luật và kỹ năng, nghiệp vụ công tác thi đua, khen thưởng cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt và cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng của các cấp Hội.


2. Đổi mới tổ chức các phong trào thi đua
Trong 5 năm qua, các cấp Hội đã có nhiều đổi mới, sáng tạo trong việc tổ chức các phong trào thi đua, tạo được khí thế thi đua sôi nổi. Nội dung thi đua phong phú, thiết thực, sát với nhiệm vụ trọng tâm của Hội và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, đơn vị đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của cán bộ, hội viên, nông dân. Tên các phong trào thi đua ngắn gọn, rõ ràng, dễ nhớ, dễ thực hiện, lượng hóa được các chỉ tiêu thi đua bằng cách tính điểm tạo điều kiện cho việc kiểm tra, nhận xét, đánh giá, xếp loại thi đua được chính xác, công bằng, khách quan. Có phong trào thi đua chung, có phong trào thi đua gắn với từng chuyên đề hoạt động cụ thể, các phong trào thi đua được tổ chức đan xen nhau, các chỉ tiêu thi đua được cụ thể theo từng năm và được triển khai đến cán bộ, hội viên, nông dân. Việc phát động và đăng ký giao ước thi đua hàng năm ở các cấp Hội được duy trì nền nếp; mục tiêu, nội dung, chỉ tiêu thi đua, biện pháp thực hiện, tiêu chuẩn xét khen thưởng đều được cụ thể hóa, thực hiện công khai chấm điểm, bình xét thi đua theo nguyên tắc thành tích đến đâu khen thưởng đến đó. Công tác thi đua, khen thưởng được đổi mới theo hướng tăng tính chủ động, sáng tạo cho các cấp Hội, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương, tuyên truyền, nhân rộng, tạo sức lan tỏa của các phong trào thi đua và các điển hình tiên tiến. Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng theo cụm, khối, phát huy hiệu quả  tính chủ động, sáng tạo của các cụm, khối trong việc tổ chức triển khai nội dung, tiêu chí phong trào thi đua, ký kết giao ước thi đua.


Đồng thời với việc tiếp tục chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả Ba phong trào thi đua trọng tâm của Hội: Phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”, phong trào “Nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới”, phong trào “Nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng - an ninh” gắn với Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Các cấp Hội, các đơn vị, cơ quan chuyên trách đã linh hoạt, vận dụng, cụ thể hóa thành các phong trào thi đua phù hợp với từng địa phương, đơn vị, từng lĩnh vực, chuyên đề hoạt động với nhiều chủ đề như: Phong trào “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi”, phong trào “Dồn điền, đổi thửa”; “Cải tạo vườn tạp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc”, “ giúp nhau giảm nghèo, phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới”; phong trào 4 cao “Năng suất cao, chất lượng cao, hiệu quả kinh tế cao và sức cạnh tranh cao”; Phong trào “Năng suất, chất lượng, hiệu quả, vệ sinh, an toàn và tiết kiệm trong sản xuất và chế biến các sản phẩm nông nghiệp”; Phong trào: “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong cán bộ, công chức, viên chức và nữ cán bộ, công chức, viên chức; phong trào “ Văn nghệ - Thể dục, thể thao”, “Xây dựng nếp sống văn hóa, phòng chống các tệ nạn xã hội, nâng cao dân trí”, “Xây dựng gia đình nông dân no ấm, khỏe mạnh, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững”, “Thực hiện dân số - kế hoạch hóa gia đình”, “Bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Vì người nghèo” v.v…

 
II. KẾT QUẢ CÁC PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC TRONG HỘI VIÊN, NÔNG DÂN
Thực hiện phương châm lấy lợi ích kinh tế, quyền lợi thiết thực của hội viên, nông dân làm phương thức, động lực hoạt động để thu hút, tập hợp, vận động hội viên, nông dân; Hội Nông dân các cấp đã đẩy mạnh tổ chức thực hiện có hiệu quả Ba phong trào thi đua lớn của Hội.

1. Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững (Phong trào sản xuất kinh doanh giỏi) 
Đây là phong trào trọng tâm của Hội Nông dân Việt Nam đã và đang đem lại nhiều đổi mới, thiết thực, hiệu quả trong đời sống, kinh tế, xã hội nông thôn. Phong trào luôn được các cấp Hội tập trung chỉ đạo phát động và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Phong trào tiếp tục phát triển cả bề rộng và chiều sâu, có sức lan toả trong nhiều lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, trở thành tâm điểm trong đời sống kinh tế, xã hội ở nông thôn và đã đạt được những kết quả to lớn, tạo động lực lôi cuốn, khích lệ, động viên hội viên, nông dân hăng hái thi đua lao động, sản xuất, đổi mới cách nghĩ, cách làm, vươn lên làm giàu và giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo; tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khai thác tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, vốn liếng để đầu tư phát triển sản xuất, mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản. Tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Phong trào đã thu hút được đông đảo các hộ nông dân tham gia. Bình quân hàng năm có 8,2 triệu hộ nông dân đăng ký phấn đấu, trong đó có 4,2 triệu hộ đạt danh hiệu hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Trong đó đạt danh hiệu cấp tỉnh và Trung ương chiếm 7%; cấp huyện chiếm 24% và cấp xã chiếm 69%. Từ phong trào đã xuất hiện ngày càng nhiều nông dân đạt danh hiệu hộ sản xuất, kinh doanh giỏi; nhiều mô hình có quy mô sản xuất lớn thu hút hàng trăm lao động, thu nhập hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng mỗi năm. So với giai đoạn 2005 - 2010, số hộ có mức thu lợi nhuận hàng năm trên 200 triệu đồng tăng gấp 3 lần, trên 1 tỷ đồng tăng gấp 5 lần. Bình quân thu nhập của hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp tỉnh và Trung ương là 195 triệu đồng/hộ/năm, trong đó hộ có thu nhập cao nhất đạt trên 13 tỷ đồng/năm; hộ có thu nhập thấp nhất đạt 102 triệu đồng/năm. Bình quân thu nhập của hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp huyện đạt 95 triệu đồng/năm, hộ cao nhất đạt 102 triệu đồng/năm, hộ thấp nhất đạt 45 triệu đồng/năm. Bình quân thu nhập của hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp xã đạt 38,6 triệu/năm. Cũng từ phong trào, nhiều hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi đã mạnh dạn đầu tư và thành lập các doanh nghiệp loại vừa và nhỏ ở nông thôn hoặc các tổ hợp tác, hợp tác xã.

Phong trào đã khuyến khích, động viên hội viên, nông dân phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, giúp các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bằng nhiều hình thức: giúp về vốn, giống, ngày công lao động, vật tư nông nghiệp,  hướng dẫn kỹ thuật, cách làm ăn; chia sẻ với những khó khăn, mất mát của đồng bào các vùng gặp thiên tai lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh... Hàng năm, các cấp Hội đã vận động cán bộ, hội viên, nông dân quyên góp, ủng hộ, giúp đỡ hàng ngàn lượt hộ nông dân nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống. Các cấp Hội đã vận động các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tạo việc làm tại chỗ cho hơn 12,6 triệu lượt lao động, trong đó có 4,1 triệu lượt lao động có việc làm thường xuyên, hơn 8,5 triệu lượt lao động có việc làm theo mùa vụ, nhiều hộ gia đình đã tạo việc làm cho 50 - 100 lao động; giúp đỡ vốn, giống cây, con và kinh nghiệm sản xuất cho hơn 7,5 triệu lượt hộ nông dân, giúp hơn 160 nghìn hộ nông dân thoát nghèo, trên 1,4 triệu hộ nghèo cải thiện điều kiện nhà ở. Vận động cán bộ, hội viên, nông dân tích cực tham gia xây dựng Quỹ “Vì người nghèo”, Quỹ “đền ơn đáp nghĩa”, mỗi năm hàng chục tỷ đồng, xây dựng hàng trăm nhà tình nghĩa, vườn tình nghĩa, hàng ngàn sổ tiết kiệm tình nghĩa, nhận phụng dưỡng suốt đời Bà mẹ Việt Nam Anh hùng... Các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện của cán bộ, hội viên, nông dân trên cả nước mang ý nghĩa chính trị - xã hội, tính nhân văn sâu sắc, góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy truyền thống yêu nước, tinh thần tương thân, tương ái của dân tộc.

Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững đã góp phần đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thúc đẩy kinh tế phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới, giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội ở nông thôn, xây dựng tổ chức Hội Nông dân ngày càng vững mạnh và phát triển. Phong trào cũng đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng; sự phối hợp, tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các bộ, ban, ngành, các nhà khoa học, các doanh nghiệp...

Từ phong trào đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến, những tấm gương xuất sắc, tiêu biểu đại diện cho tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường của giai cấp nông dân Việt Nam. Đó là những tấm gương hộ nông dân sản xuất giỏi, chủ trang trại, giám đốc các doanh nghiệp nông nghiệp ở nông thôn, họ chính là những nông dân tiêu biểu nhất đi đầu trong lao động sản xuất, có nhiều sáng kiến, sáng tạo, năng động, dũng cảm và nghĩa tình, đại diện cho những người nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới dám nghĩ, dám làm, với ý chí quyết tâm vươn lên làm giàu, đi đầu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phá thế độc canh trong sản xuất nông nghiệp, cùng với việc tích tụ ruộng đất, đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi... với quy mô lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, thông qua phong trào, đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả, phù hợp với nền nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp đô thị có thể nhân rộng; khôi phục và phát triển ngành nghề nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập của nông dân; đời sống vật chất, tinh thần ở khu vực nông thôn giảm dần sự cách biệt so với thành thị, nông dân ngày một hưởng thụ nhiều hơn về đời sống văn hóa, môi trường xanh, sạch. Nhiều chủ trang trại đã thành công trong mô hình trang trại tổng hợp: Trồng trọt - chăn nuôi - nuôi trồng thủy sản - dịch vụ hoặc Nông - Lâm - Thủy sản kết hợp với quy mô lớn đem lại hiệu quả cao, ổn định, thu nhập bình quân (trừ chi phí) đạt từ 1,2 tỷ đồng đến trên 13 tỷ đồng/năm. Điển hình là: Ông Hà Tấn Tâm, hội viên nông dân khu Thới Thạnh, phường Thới An, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ với mô hình trang trại tổng hợp trồng trọt - chăn nuôi, cho thu nhập 13,5 tỷ đồng/năm; Ông Nguyễn Văn Thanh, hội viên nông dân - Chủ nhiệm HTX chăn nuôi, dịch vụ tổng hợp Hòa Mỹ, xã Vạn Thái, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội với mô hình trang trại chăn nuôi lợn khép kín công nghệ cao cho thu nhập bình quân 8,2 tỷ đồng/năm. ÔngNguyễn Đăng Cường, hội viên nông dân thôn Đồng Đông, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với mô hình chăn nuôi (thuần hóa vịt trời thương phẩm -  trồng trọt, hàng năm cho thu lợi 4 - 6 tỷ đồng;  Ông Lê Quang Minh, hội viên nông dân chi hội ấp Đất Đỏ, xã An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương với mô hình trồng cây công nghiệp kết hợp chăn nuôi gia cầm cho thu nhập hơn 4 tỷ đồng/năm; Bà Đặng Thị Dịu, hội viên nông dân khu 7, phường Hải Hòa, TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh với mô hình 10ha nuôi tôm he chân trắng phương pháp công nghiệp doanh thu 12 tỷ đồng/năm, lãi 3 tỷ đồng/năm; Ông Đỗ Quốc Trường, hội viên chi hội nông dân ấp Láng Lớn, xã Thái Trị, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An với mô hình trồng lúa cánh đồng mẫu lớn cho thu nhập 2,5 tỷ đồng/năm. Ông Nguyễn Phong Phú, hội viên chi hội Nghĩa Lập 5, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm ĐồngÔng Đoàn Trung Ngọc, hội viên nông dân xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai với mô hình kinh tế tổng hợp thu lãi 2 tỷ đồng/năm; Ông Lâm Văn Giàng, dân tộc Tày, hội viên nông dân xã Minh Đức, huyện Hớn Quán, tỉnh Bình Phước với mô hình kinh tế tổng hợp cho thu nhập 1,8 tỷ đồng/năm.

Những tấm gương người nông dân tuy thu nhập chưa cao như các chủ trang trại, nhưng họ là đại diện cho ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống, không cam chịu nghèo khổ, quyết tâm thoát nghèo, làm giàu cho gia đình, quê hương và đất nước với bình quân thu nhập đã trừ chi phí của các hộ đạt từ 150 - 250 triệu đồng/năm như: Ông Triệu Tiến Phương, hội viên nông dân thôn Bản Đính, xã Nghiên Loan, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn; Ông Hoàng Văn Tiến, hội viên nông dân xóm Pắc Cập, xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; Ông Đinh Đăng Tuấn, hội viên nông dân xã Hưng Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; Bà Phạm Thị Mau, hội viên nông dân xã Ba Vì, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi; Ông Bùi Ngọc Lê, hội viên chi hội nông dân khu phố Nam Thành, thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận...

Những tấm gương nông dân say mê, miệt mài nghiên cứu, tìm tòi, có nhiều sáng kiến, sáng chế về lai tạo giống cây, con; chế tạo máy nông cụ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm giá thành, chi phí, tiết kiệm thời gian và công - sức lao động cho người nông dân, như: Ông Phạm Văn Hát, hội viên nông dân xã Ngọc Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã nghiên cứu, chế tạo hơn 12 máy nông cụ phục vụ cho bà con nông dân; Ông Phạm Văn Hùng, hội viên chi hội nông dân ấp Tân Xuân, xã Tân Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; Ông Nguyễn Văn Dũng, chi hội trưởng chi hội nông dân ấp Bình Phú, xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã chế tạo nhiều loại máy được áp dụng vào sản xuất; Ông Bùi Sỹ Tới, hội viên chi hội nông dân thôn Trung Tâm, xã Nậm Búng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái chế tạo máy cày, máy bừa từ động cơ xe máy phù hợp với ruộng bậc thang ở miền núi; Ông Nguyễn Đăng Cường, hội viên nông dân thôn Đồng Đông, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Ông Tô Quang Dần, hội viên nông dân chi hội thôn Đoàn Tùng, xã Đông Phú, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nghiên cứu thuần hóa vịt trời đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2. Phong trào nông dân thi đua xây dựng  nông thôn mới
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới và hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động; Ban Chấp hành Trung ương Hội đã ban hành Nghị quyết về tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020. Các cấp Hội đã tích cực tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới bằng những việc làm thiết thực cho việc xây dựng nông thôn mới. Phong trào như một cuộc cách mạng, lôi cuốn hàng triệu hội viên, nông dân hưởng ứng, tích cực tham gia, lan tỏa rộng khắp đến mỗi người nông dân, hàng vạn gia đình hội viên, nông dân tự nguyện dỡ rào, chặt cây cối, hiến 24,7 triệu m2 đất thổ cư, đất sản xuất của gia đình mà không lấy tiền đền bù để mở đường, xây dựng các công trình công cộng ở nông thôn; đóng góp trên hai nghìn tỷ đồng, 29 triệu ngày công lao động để sửa chữa và làm mới 1,2 triệu km đường giao thông nông thôn, 1,4 triệu km kênh mương nội đồng, xây dựng đường điện hạ thế, phòng học, nhà trẻ, trường mầm non, trạm y tế và hàng ngàn nhà văn hóa xã, thôn, ấp, bản làng làm cho quê hương ngày càng khởi sắc... Nhiều nội dung của Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được triển khai có kết quả bước đầu. Nhiều cấp Hội đã đăng ký thực hiện, đảm nhận các tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội với cấp ủy, chính quyền địa phương. Nhiều chi, tổ Hội tự nguyện đảm nhận xây dựng, duy tu, bảo dưỡng đường giao thông liên thôn, liên xã, xây dựng các công trình, con đường mang tên Hội Nông dân. Đến tháng 7/2015, có 889 xã (chiếm 9,98%) và 5 huyện trong cả nước được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Bình quân mỗi xã đạt 10,8 tiêu chí.

Phong trào nông dân tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đã tạo điều kiện thúc đẩy giao thương, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần người nông dân, góp phần chuyển dịnh cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và thu hút doanh nghiệp đầu tư, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, đời sống của người nông dân được nâng lên rõ rệt.

Các cấp Hội đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường nông thôn. Tích cực huy động các nguồn lực xây dựng các mô hình về bảo vệ môi trường nông thôn để tuyên truyền, phổ biến và nhân rộng; hướng dẫn hội viên, nông dân phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường, tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường nông thôn xanh - sạch - đẹp. Vận động hội viên, nông dân thực hiện Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng gia đình văn hóa, tham gia xây dựng làng, xã văn hóa; thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội; phòng chống các tệ nạn xã hội, thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình; bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em; tham gia các hoạt động khuyến học, khuyến tài ở nông thôn. Phối hợp với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, vận động hội viên, nông dân tích cực tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, tổ chức các cuộc thi: “Tiếng hát đồng quê”, “Giải Bóng chuyền bông lúa vàng”, “Bóng đá nông dân”, “Giải vật Tạp chí Nông thôn mới” đã tạo thêm nhiều sân chơi mới bổ ích, thiết thực, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, mở rộng giao lưu học hỏi, hiểu biết, chia sẻ giữa các dân tộc, các vùng miền trong cả nước. Hàng năm, có gần 10 triệu hộ gia đình nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” trong đó có trên 9 triệu hộ gia đình được công nhận.

Phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới, đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, như: Ông Từ Thành Gia, hội viên Hội Nông dân xã Liêu Tú, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng hiến 7.500m2 đât; Ông Đỗ Quốc Trượng, hội viên nông dân xã Thái Trị, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, hiến hơn 7.000m2 đất; Ông Lã Văn Lỷ, chi hội Bản Đồn II, phường Xuất Hóa, thành phố Bắc Kạn tự nguyện hiến 1.900m2 đất; Bà Lê Thị Kim Liên, hội viên nông dân xã Nhân Cơ, huyện Đăk R’Lắp, tỉnh Đăk Nông đã hiến 1.800m2; Ông Y Nhữi, hội viên chi hội nông dân thôn Piơng, xã A Dơk, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai đã hiến 1.800m2 đất; Ông Vũ Văn Nghĩa, hội viên chi hội nông dân ấp Tân Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiến hơn 400m2 đất làm đường giao thông nông thôn, xây dựng công trình công cộng.

3. Phong trào nông dân thi đua tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh
Các cấp Hội đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, luôn cảnh giác với diễn biến hòa bình và chia rẽ dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng đại đoàn kết. Hội đã chủ động phối hợp với lực lượng Quân đội, Công an triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác quốc phòng, an ninh, Chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, đấu tranh ngăn chặn các hành động phá hoại của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh nông thôn. Tích cực tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức về phòng chống tội phạm, Luật nghĩa vụ quân sự cho hội viên, nông dân. Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng các phóng sự truyền hình về các mô hình, điển hình tiên tiến trong phòng chống tội phạm và bài trừ tệ nạn xã hội. Xây dựng các tổ tự quản, tổ an ninh nhân dân, tổ hòa giải ở thôn xóm; phát động phong trào nông dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc; tổ chức cho hội viên, nông dân ký cam kết gia đình không có người vi phạm pháp luật và mắc các tệ nạn xã hội, tích cực cung cấp kịp thời các thông tin liên quan đến an ninh, tội phạm cho các cơ quan chức năng. Đồng thời các cấp Hội đã tích cực vận động hội viên, nông dân, con, em của hội viên, nông dân thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự, dân quân tự vệ và các chính sách hậu phương quân đội, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ, mẹ Việt Nam Anh hùng, người có công với cách mạng bằng những việc làm cụ thể thiết thực, thắm đượm nghĩa tình. Qua 5 năm, hội viên, nông dân đã phát hiện, tố giác được 42.725 vụ vi phạm pháp luật, 32 vụ mua bán người, cung cấp cho cơ quan công an, chính quyền địa phương 340.000 nguồn tin; vận động được 8.000 đối tượng phạm tội ra tự thú với cơ quan pháp luật, cảm hóa giúp đỡ được 27.640 người lầm lỗi.....

Tại các địa bàn nơi biên giới, hải đảo, các cấp Hội đã tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trên biển đảo và đường biên, mốc giới, chống xâm canh, xâm cư; phối hợp với lực lượng hải quân, biên phòng, cảnh sát biển tổ chức tuần tra bảo vệ an ninh biên giới, hải đảo, xây dựng các “Điểm sáng vùng biên”, “Con đường tuần tra biên giới”; thường xuyên nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, không để hội viên nông dân mắc mưu kẻ xấu, gây mất trật tự, an ninh ở nông thôn. Nhiều hội viên ngư dân không sợ hiểm nguy, kiên cường ra khơi, bám biển đánh bắt thủy sản góp phần phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Họ chính là những cột mốc sống nơi biên cương, hải đảo.

Bên cạnh đó, cán bộ, hội viên, nông dân cả nước luôn luôn thể hiện tinh thần yêu nước, giữ gìn an ninh trật tự xã hội và bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Hội Nông dân Việt Nam đã ra tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981-HD vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước ta. Nhằm tuyên truyền sâu rộng tới cán bộ, hội viên, nông dân về chủ quyền biển đảo, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã thành lập đoàn công tác ra thăm huyện đảo Trường Sa và nhà giàn DK1/9, tặng 42 suất quà trị giá hơn 150 triệu đồng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đang sinh sống, công tác, làm nhiệm vụ tại hơn 10 đảo, điểm đảo và nhà giàn DK1/9, góp phần động viên, cổ vũ lớn lao để quân và dân huyện đảo Trường Sa tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, đoàn kết hoàn thành nhiệm vụ, trọng trách bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động cuộc vận động “Nông dân với Trường Sa”, cán bộ, hội viên, nông dân cả nước đã đóng góp hơn 2,9 tỷ đồng ủng hộ Quỹ “Vì Trường Sa thân yêu”.

Kết quả nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn. Thông qua phong trào đã xuất hiện những gương điển hình tiên tiến như: Ông Chảo Chỉn Siền, chi hội phó chi hội nông dân xóm Lùng Vần Chải, xã Xín Cái, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang cùng Bộ đội Biên phòng tích cực tuần tra, giữ gìn, bảo vệ cột mốc biên giới của Tổ quốc; Ông Lê Văn Chiến, chi hội trưởng chi hội khai thác xa bờ quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng cùng 9 tàu với 90 thuyền viên tích cực ra khơi bám biển, bảo vệ chủ quyền Tổ quốc khi Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển nước ta, cứu sống 17 thuyền viên khi tàu bị nổ bình ga trên biển. ÔngBùi Thanh Ninh, hội viên chi hội nông dân thôn Thiện Chánh 1, xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định với 10 tàu lớn kiên cường đánh bắt khai thác tại quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.

4. Phong trào thi đua trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức Hội các cấp, góp phần xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh
Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh là nhiệm vụ quan trọng, then chốt, có ý nghĩa quyết định sự thắng lợi trong công tác Hội và phong trào nông dân. Vì vậy, trong 5 năm qua, phong trào thi đua xây dựng tổ chức Hội vững mạnh đã được các cấp Hội tập trung chỉ đạo với phương châm hướng mạnh về cơ sở, coi việc xây dựng cơ sở Hội là nền tảng để xây dựng tổ chức Hội vững mạnh. Với quyết tâm củng cố và xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, các cấp Hội đã có nhiều đổi mới, sáng tạo, linh hoạt trong triển khai các đợt thi đua, các cuộc vận động, các hoạt động của Hội. Đổi mới nội dung và hình thức hoạt động, đa dạng hoá mô hình hoạt động và hình thức tập hợp, tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân, phát triển hội viên mới, nâng cao chất lượng hoạt động của chi, tổ hội; xây dựng và phát triển quỹ Hội, Quỹ Hỗ trợ nông dân, đó thực sự là “chất keo” gắn kết giữa hội viên nông dân với tổ chức Hội. Thực tiễn phong trào đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến, nhiều mô hình mới, cách làm hay, hiệu quả.

Thực hiện tốt chức năng đại diện, chăm lo lợi ích thiết thực, giải quyết những vấn đề đặt ra đối với hội viên, nông dân. Với phương châm hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động, các cấp Hội đã tập trung xây dựng và tổ chức chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nghị quyết chuyên đề của Hội; tích cực tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo; chủ động tăng cường phối hợp với các Bộ, ban, ngành liên quan để khai thác, vận động tạo nguồn lực cho Hội hoạt động nhằm hỗ trợ nông dân về vốn tín dụng, khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và thị trường tiêu thụ… ; tổ chức các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ, tư vấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, vay vốn tín dụng, tạo điều kiện cho hội viên nông dân trong lao động, sản xuất, phát triển kinh tế.  Đã có hơn 120.000 hộ hội viên nông dân được vay vốn từ nguồn Quỹ hỗ trợ nông dân của tổ chức Hội với 1.939,202 tỷ đồng; đã phối hợp và trực tiếp dạy nghề được 33.593 lớp cho 1.074.976 hội viên, nông dân.  

Các cấp Hội đã phát huy vai trò tham gia giám sát và phản biện xã hội đối với việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nhiều nội dung kiến nghị, đề xuất của Hội đã được Đảng và Nhà nước thể chế hóa và đem lại những hiệu quả nhất định. Thông qua đó, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và hoạt động của Hội từng bước được hoàn thiện, tạo điều kiện để Hội Nông dân được phát triển toàn diện, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước.

Quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy các cấp Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Với vai trò nòng cốt, thúc đẩy, quyết định chất lượng và hiệu quả phong trào thi đua yêu nước của Hội, cơ quan chuyên trách các cấp Hội chú trọng cải tiến, đổi mới lề lối làm việc có tính kế hoạch, khắc phục tính hành chính, đẩy mạnh thực hành tiết kiệm; đội ngũ cán bộ chuyên trách Hội nêu cao tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nông dân, nông thôn, sâu sát thực tiễn phong trào, thường xuyên đi cơ sở tích cực học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong người cán bộ Hội “Theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân trong tình hình mới. Tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất các cơ chế, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đặc biệt các cấp Hội và cán bộ Hội đã nghiêm túc thực hiện kiểm điểm  theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và khắc phục những hạn chế, yếu kém của tổ chức và cá nhân cán bộ Hội, có những giải pháp thiết thực, cụ thể để khắc phục sửa chữa. Nhiều cán bộ Hội cơ sở vừa giỏi làm kinh tế, vừa giỏi trong điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhiệt tình, trách nhiệm với công tác Hội và phong trào nông dân, có tâm giúp đỡ hộ nghèo vượt khó đã có sức lôi cuốn, thu hút mạnh mẽ hội viên, nông dân làm theo; tạo được uy tín, niềm tin đối với cấp ủy, chính quyền và hội viên nông dân cơ sở. Đó là những cán bộ “Dân vận khéo”, “Óc nghĩ, mắt thấy, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Điển hình như: Ông Nguyễn Đăng Lương, Chủ tịch Hội Nông dân thị trấn Cô Tô, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh, thu nhập bình quân hơn 300 triệu đồng/năm. Ông Lục Văn Nhàn, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bắc An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, có mô hình kinh tế hiệu quả cho thu nhập 1,2 tỷ đồng/năm. Ông Quách Đại Vương, Chủ tịch Hội Nông dân xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình gia đình nhiều năm liền đạt danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi. Ông Nguyễn Thanh Cao, Chủ tịch Hội Nông dân xã Long Điền, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu; Ông Trần Văn Hành, Chủ tịch Hội Nông dân xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vừa công tác tốt vừa giỏi vận động quyên góp, ủng hộ xây dựng nông thôn mới và các hoạt động xã hội.

Có thể khẳng định, qua các phong trào thi đua, chất lượng cán bộ Hội ngày càng được nâng lên về ý thức trách nhiệm, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng tổ chức hoạt động Hội. Nhiều cán bộ Hội trưởng thành từ phong trào cơ sở. Phong trào thi đua đã trở thành động lực tinh thần to lớn cỗ vũ, động viên cán bộ Hội tích cực, năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn trong công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 

Từ hiệu quả phong trào thi đua xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, chất lượng hội viên và Hội cơ sở ngày càng được nâng lên, số cơ sở Hội vững mạnh, xuất sắc năm sau luôn cao hơn năm trước, nông dân tham gia sinh hoạt Hội ngày càng tăng, nâng tổng số hội viên lên hơn 10 triệu; hệ thống tổ chức Hội được củng cố và phát triển, vai trò, vị thế của tổ chức Hội ngày càng được phát huy và nâng cao, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, được các cấp uỷ Đảng, chính quyền đánh giá cao. Nhiều tổ chức Hội các cấp được công nhận là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua yêu nước của địa phương nhiều năm liền. Điển hình là Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa đã được các cấp đề nghị Nhà nước xét, phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động” dịp Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX.

IIIXÂY DỰNG VÀ NHÂN RỘNG CÁC ĐIỂN HÌNH TIÊN TIẾN
Phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong 5 năm qua được các cấp Hội quan tâm chỉ đạo; đã có bước chuyển biến tích cực, coi việc phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình tiên tiến là một trong những động lực tinh thần quan trọng để thi đua, khen thưởng đi vào cuộc sống của cán bộ, hội viên, nông dân. Các cấp Hội đã có nhiều hình thức, nội dung đa dạng, phong phú như tổ chức Hội nghị biểu dương, tôn vinh các điển hình, tổ chức Hội thi, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm thông qua hoạt động của các cụm, khối, khu vực thi đua.

Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm biểu dương, tôn vinh các điển hình tiêu biểu xuất sắc như: “Hội nghị biểu dương nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”, “Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật nhà nông” được tổ chức 2 năm một lần; từ năm 2013 lễ “Tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu”, Tôn vinh và trao danh hiệu “Nông dân Việt Nam xuất sắc” được tổ chức hàng năm, đã kịp thời động viên, khích lệ hội viên, nông dân trong cả nước, nâng cao vị thế của người nông dân và tổ chức Hội, thu hút sự đồng tình, chú ý và quan tâm của cộng đồng, xã hội đối với các phong trào thi đua  và hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam.

Phong trào thi đua yêu nước được các cơ quan thông tin của Hội dành thời lượng cần thiết, xây dựng các chương trình, chuyên mục để tuyên truyền, giới thiệu, nêu gương các điển hình tiên tiến, tạo sức lan tỏa rộng rãi trong cán bộ, hội viên, nông dân. Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tuyên truyền về các điển hình tiên tiến; tổ chức giao lưu gặp mặt nông dân điển hình tiên tiến trong phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, nông dân lầm lỗi tái hòa nhập cộng đồng, xây dựng các phóng sự truyền hình về các mô hình điển hình...

IV. CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG
Quán triệt nguyên tắc khen thưởng phải kịp thời, chính xác, trong 5 năm qua công tác khen thưởng đã được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trong các cấp Hội, Việc xét khen thưởng đảm bảo tính công khai, dân chủ. Bên cạnh khen thưởng định kỳ gắn với việc sơ, tổng kết hàng năm, các cấp Hội đã đẩy mạnh việc khen thưởng theo chuyên đề, chủ đề phát động các đợt thi đua.

Hàng năm, tiến hành sơ kết các phong trào, tổng kết công tác thi đua khen thưởng, đánh giá những ưu, khuyết điểm và xét khen thưởng, quy trình, thủ tục xét khen thưởng đã được cải tiến nhanh gọn, bảo đảm nguyên tắc, chất lượng. Chú trọng khen thưởng đối với cơ sở, hội viên, nông dân và cán bộ, công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Từ các phong trào thi đua do Hội Nông dân phát động đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến, tiêu biểu được Đảng, Nhà nước và Trung ương Hội Nông dân Việt Nam khen thưởng. Trong 5 năm qua, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã xét, đề nghị Nhà nước tặng thưởng 3 Huân chương Độc lập các hạng, 43 Huân chương Lao động các hạng; Thủ tướng Chính phủ tặng 24 Bằng khen, 7 Cờ thi đua và 09 Chiến  sỹ thi đua toàn quốc cho các tập thể, cá nhân xuất sắc của  cơ quan Trung ương Hội. Ở các cấp Hội đã có 4 tỉnh, thành Hội được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất; 3 tỉnh Huân chương Độc lập hạng Nhì; 10 tỉnh Huân chương Độc lập hạng Ba; 6 Huân chương Lao động hạng Nhất; 30 Huân chương Lao động hạng Nhì; 107 Huân chương Lao động hạng Ba; Chính phủ tặng thưởng 46 cờ thi đua xuất sắc; 516 Bằng khen và 4 chiến sỹ thi đua toàn quốc cho các tập thể và cá nhân.

Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tặng thưởng 46.238 Kỷ niệm chương “Vì giai cấp nông dân Việt Nam”; 163 cờ thi đua, 7.822 bằng khen cho các tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua của Hội.

Đã có 802 tập thể, cá nhân là cán bộ, hội viên, nông dân của Hội được các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương tặng bằng khen; Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố tặng 585 cờ thi đua, 9.159 bằng khen và 445 cá nhân đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp tỉnh.

Tại Hội nghị điển hình tiên tiến các cấp và Đại hội thi đua yêu nước và biểu dương “Nông dân điển hình tiên tién” toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IV đã có 2.912 tập thể và cá nhân được tặng bằng khen của Ủy ban nhân tỉnh, thành phố; 2663 bằng khen của Hội Nông dân cấp tỉnh. Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã trình Thủ tướng Chính phủ xét, trình Chủ tịch nước tặng thưởng 3 Huân chương Lao động hạng Nhì, 12 Huân chương Lao động hạng Ba; 96 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho các điển hình tiên tiến tiêu biểu xuất sắc của Hội Nông dân Việt Nam. Ban Chấp hành Trung ương Hội xét tặng bằng khen cho 200 tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu.
 
V.  ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Ưu điểm:
Phong trào thi đua 5 năm qua của Hội đã bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị, những mục tiêu kinh tế - xã hội trọng yếu của đất nước và của từng địa phương; đã có tác dụng động viên, khơi dậy, giữ vững và phát huy truyền thống yêu nước, giàu lòng nhân ái, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, tính cần cù,  năng động, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, tạo động lực mới, nhân tố mới trong cán bộ, hội viên, nông dân; phát huy được giá trị tốt đẹp, khuyến khích nông dân sản xuất có hiệu quả, xây dựng đời sống văn hóa thân thiện, bền vững, sức cạnh tranh cao; được các cấp ủy Đảng và chính quyền ghi nhận, không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho hội viên, nông dân mà còn góp phần cùng cả nước thực hiện các mục tiêu xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, bảo đảm trật tự - an toàn xã hội; hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Công tác thi đua, khen thưởng của Hội đã có nhiều chuyển biến tích cực cả về nhận thức cũng như đổi mới nội dung, hình thức. Phong trào thi đua đã trở thành việc làm thường xuyên của mỗi tổ chức Hội và mỗi cán bộ, hội viên nông dân; đã phát huy có hiệu quả trên tất cả các mặt công tác, động viên khuyến khích cán bộ, hội viên, nông dân hăng hái thi đua lao động, sản xuất, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Công tác tổ chức, chỉ đạo phong trào thi đua từng bước đổi mới và đẩy mạnh với nhiều hình thức, nội dung phong phú, sát với thực tiễn của từng địa phương, đơn vị góp phần hoàn thành các chỉ tiêu đề ra hàng năm. Hoạt động của các cụm, khối, khu vực thi đua duy trì nề nếp.

Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, tổ chức Hội Nông dân các cấp không ngừng được củng cố và phát triển cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, xứng đáng là trung tâm và nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới. Từ các phong trào thi đua yêu nước và quá trình phấn đấu không mệt mỏi, đội ngũ cán bộ Hội các cấp đã từng bước trưởng thành hơn, có nhiều đóng góp chung cho sự phát triển của Hội, của địa phương. Nhiều cán bộ Hội đã được Đảng tin tưởng, giao trọng trách lãnh đạo chủ chốt cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở Trung ương và địa phương. Họ đã thể hiện tốt vai trò của người lãnh đạo, quản lý, phát huy tinh thần trách nhiệm, dân chủ, minh bạch trong điều hành, quản lý, sâu sát, gần gũi với hội viên, nông dân.

Việc ban hành các văn bản về thi đua, khen thưởng được thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định của Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản chỉ đạo của Trung ương. Chính sách và những quy định về thi đua, khen thưởng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi trong tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng.

Việc phát hiện, bồi dưỡng nhân tố mới, xây dựng, nhân rộng điển hình tiên tiến, tổng kết, rút kinh nghiệm ngày càng được chú trọng. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu, nêu gương các điển hình được đẩy mạnh với nhiều hình thức phong phú.

Công tác khen thưởng từng bước đi vào quy trình, bảo đảm chính xác, công bằng, công khai và kịp thời; chú trọng thành tích sáng tạo trong lao động, sản xuất, công tác, đáp ứng mục tiêu của công tác thi đua, khen thưởng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phong trào thi đua ngày càng phát triển. Chất lượng và hiệu quả khen thưởng được nâng lên.

Có được thành tích trên là nhờ có sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương với chính sách cụ thể, tạo điều kiện để phong trào thi đua của Hội phát triển; sự chỉ đạo sát sao của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương cùng với sự nỗ lực, cố gắng không ngừng của Hội Nông dân các cấp trong phát động, tổ chức, triển khai thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động.

Các đơn vị, cá nhân, hội viên nông dân được bình chọn là các điển hình tiên tiến, được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và các danh hiệu cao quý khác, sau khi được tuyên dương, trao tặng, tiếp tục phấn đấu, phát huy vai trò tích cực trong các hoạt động của Hội, tiếp tục vươn lên đạt được thành tích cao hơn, góp phần thiết thực vào việc nâng cao uy tín của Hội và tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Hội Nông dân Việt Nam. Đại hội chúng ta nhiệt liệt biểu dương những đóng góp to lớn của cán bộ, hội viên, nông dân cả nước trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2010 - 2015, nhiệt liệt hoan nghênh các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến xuất sắc tham dự Đại hội hôm nay cùng hàng ngàn tấm gương cán bộ, hội viên nông dân tiêu biểu ở mọi miền Tổ quốc đã đi đầu trong phong trào thi đua yêu nước, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, xây dựng Đảng, chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2. Một số hạn chế, thiếu sót
 Phong trào thi đua ở một số địa phương, đơn vị chưa duy trì thường xuyên, có nơi còn mang nặng tính hình thức hoặc chạy theo thành tích, nội dung, hình thức tổ chức các phong trào thi đua chưa thực sự đổi mới, thiếu tính sáng tạo, chưa chú trọng nâng cao chất lượng phong trào thi đua cho phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ mới nên kết quả phong trào thi đua chưa thực sự bền vững. Chưa gắn kết thi đua với công việc thường xuyên, hàng ngày.

 Việc phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình tiên tiến chưa duy trì thường xuyên, có nơi còn mang tính hình thức, thiếu tính thuyết phục, không có sức thu hút đối tượng học tập làm theo; công tác tuyên truyền, nêu gương điển hình tiên tiến chưa được quan tâm, nên tác dụng và sự lan tỏa của điển hình trong thực tế vẫn còn hạn chế. Có những điển hình tốt chưa được bồi dưỡng và giữ vững.

Các nội dung, tiêu chí thi đua còn mang tính bình quân, chưa tính đến các yếu tố đặc thù của từng vùng, từng địa phương, ảnh hưởng đến chất lượng công tác thi đua, khen thưởng.
Nội dung hoạt động cụm, khối thi đua còn nghèo nàn, việc bình xét, khen thưởng đơn vị dẫn đầu còn mang tính cào bằng.

Công tác khen thưởng, bình xét và công nhận danh hiệu thi đua ở một số nơi chưa chặt chẽ, chưa đảm bảo quy trình, thủ tục. Việc đề nghị các hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua cấp Nhà nước vẫn chủ yếu tập trung vào đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý. Việc biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc đóng góp cho phong trào thi đua có nơi chưa thật sát, đúng nên chưa có tác dụng khuyến khích, động viên, thúc đẩy các điển hình tiên tiến vươn lên và chưa tạo động lực để phong trào thi đua phát triển mạnh và bền vững.

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả các phong trào thi đua còn nhiều bất cập, chưa có sự tập trung thường xuyên trong việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và cổ vũ động viên phong trào thi đua.

3. Nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo các phong trào thi đua, khen thưởng; việc tổ chức hướng dẫn; kiểm tra, đánh giá các phong trào thi đua chưa được quan tâm đúng mức. Một số nơi chưa chủ động, sáng tạo trong triển khai phong trào thi đua, do đó trong lãnh đạo, chỉ đạo kế hoạch phát động phong trào thi đua, nội dung, tiêu chí thi đua thiếu cụ thể, chưa phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương, đơn vị. 

Phương pháp, hình thức tổ chức có nơi chưa phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương.    
Một số cơ quan, tổ chức Hội chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tác dụng của công tác thi đua, khen thưởng nên chưa có đầu tư đúng mức. Đội ngũ cán bộ Hội làm công tác thi đua, khen thưởng chủ yếu kiêm nhiệm, chưa được đào tạo cơ bản về kỹ năng, nghiệp vụ. Năng lực tham mưu, đề xuất một số nơi còn yếu.
Nguồn kinh phí khen thưởng còn hạn hẹp, chưa đáp ứng nhu cầu nên chưa thực hiện đúng mức tiền thưởng theo chế độ quy định và cấp nào khen cấp đó thưởng.

 4. Một số kinh nghiệm
Từ thực tế phong trào thi đua và công tác khen thưởng của Hội trong 5 năm qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, công tác thi đua, khen thưởng phải bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, nhiệm vụ của Hội. Việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương cần gắn với lãnh đạo, chỉ đạo các phong trào thi đua, tạo động lực và sức mạnh tổng hợp trong tổ chức thực hiện. Phong trào thi đua muốn mang lại hiệu quả thiết thực phải đi vào giải quyết các vấn đề bức thiết, những khó khăn, vướng mắc, tồn tại của địa phương, đơn vị, của hội viên, nông dân một cách thiết thực. Tổ chức các phong trào thi đua phải gắn với hỗ trợ vốn, vật tư nông nghiệp, khoa học công nghệ, đào tạo dạy nghề cho hội viên nông dân.

Hai là, Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả của lãnh đạo Hội, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp.

Ba là, Nội dung, mục tiêu phong trào thi đua phải được cụ thể hóa, phù hợp với thực tế tổ chức và hoạt động của Hội; gắn công tác thi đua, khen thưởng với việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Hội, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ của cấp Hội, đơn vị là mục tiêu, là động lực quan trọng để tổ chức thực hiện phong trào thi đua. Trong công tác thi đua, khen thưởng luôn coi trọng việc đăng ký thi đua; công tác thông tin, tuyên truyền với nhiều nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, thiết thực.

Bốn là, Việc bình xét, khen thưởng phải chính xác, công bằng, công khai và kịp thời chặt chẽ mới có tác dụng động viên, nêu gương và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục; quan tâm khen thưởng tập thể nhỏ, đến cán bộ Hội cơ sở và hội viên, nông dân, các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Hội.  

Năm là, Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, chú trọng sơ, tổng kết phong trào thi đua, công tác khen thưởng, phát hiện nhân tố mới, cách làm hay để rút kinh nghiệm và nhân rộng. Luôn quan tâm nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ công chức làm công tác thi đua, khen thưởng các cấp Hội.
 
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHONG TRÀO THI ĐUA VÀ CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
 
I. PHƯƠNG HƯỚNG
Phát huy những thành tích đã đạt được trong các phong trào thi đua 5 năm qua,  trong những năm tới các cấp Hội tập trung chỉ đạo, phát động các phong trào thi đua yêu nước, động viên cán bộ, hội viên, nông dân hăng hái thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, hoàn thành suất sắc các chỉ tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI đã đề ra, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Kết luận số 61-KL/TW, ngày 03/12/2009 của Ban Bí thư về Đè án ‘Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020” và Quyết định số 673/QĐ-TTg, ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ  “Về việc Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011- 2020”.

II. MỤC TIÊU
Phát huy nội lực, truyền thống tốt đẹp của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong các phong trào thi đua yêu nước, qua đó đoàn kết, tập hợp, vận động, động viên cán bộ,  hội viên, nông dân hăng hái thi đua trong công tác, lao động, sản xuất, xây dựng tổ chức Hội Nông dân vững mạnh, tích cực nhân rộng các điển hình tiên tiến, đồng sức, đồng lòng, đoàn kết góp phần thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân.

 III - NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc và Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ Chính trị “Về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng của Hội Nông dân các cấp về công tác thi đua, khen thưởng. Tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện các chỉ thị của Đảng, Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành về thi đua, khen thưởng, Quy định về thi đua, khen thưởng của Hội Nông dân Việt Nam, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng.

Gắn kết các phong trào thi đua yêu nước với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, qua đó nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động trong cán bộ, công chức, viên chức và hội viên, nông dân.

2. Đổi mới nội dung, cách thức tổ chức các phong trào thi đua yêu nước gắn với cải tiến công tác khen thưởng theo hướng đa dạng hóa các hình thức thi đua, tăng tính chủ động, sáng tạo của địa phương, đơn vị.

Tổ chức nghiên cứu, xác định các nội dung thi đua phù hợp và phát động phong trào thi đua trong toàn hệ thống Hội; các phong trào thi đua phải gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, của Hội, với thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị cơ sở; đồng thời phong trào thi đua phải nhằm tập trung giải quyết những nhiệm vụ công tác trọng tâm, trọng điểm. Tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng Ba phong trào thi đua của Hội Nông dân Việt Nam phát động, trọng tâm là Phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” gắn với Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

Nâng cao chất lượng hoạt động cụm, khối thi đua đảm bảo thiết thực, hiệu quả, phù hợp với thực tế, tăng cường giao lưu, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về công tác thi đua, khen thưởng giữa các thành viên trong cụm, khối. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về công tác thi đua, khen thưởng.

3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát hiện, giới thiệu, nhân rộng điển hình tiên tiến, cách làm hay, mô hình sáng tạo, hiệu quả từ cơ sở  trong phong trào thi đua. Coi đó là nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới phương pháp tổ chức các phong trào thi đua.

Tập trung phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình ở các vùng miền, lĩnh vực. Công tác xây dựng điển hình tiên tiến phải được thực hiện từ cơ sở, từ chi, tổ Hội và phải thực hiện tốt cả 4 khâu: Phát hiện - bồi dưỡng - tổng kết - nhân điển hình tiên tiến. Chú trọng biểu dương các tập thể nhỏ, cán bộ không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, hội viên, nông dân. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân các cấp trong việc phát hiện, xây dựng, giới thiệu điển hình và đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng, trình khen thưởng.

Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin, tuyên truyền của Hội Nông dân trong việc tuyên truyền, giới thiệu và nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, các mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tôn vinh, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua của Hội Nông dân Việt Nam.

4. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, bảo đảm khen thưởng có tính nêu gương, chống mọi biểu hiện hình thức, bệnh thành tích trong thi đua, khen thưởng; thi đua khen thưởng thực sự phải là động lực to lớn và là biện pháp quan trọng xây dựng con người mới và mẫu người nông dân Việt Nam của thế kỷ XXI, tăng cường khen thưởng đơn vị cơ sở, công chức, viên chức và hội viên, nông dân trên các lĩnh vực hoạt động của Hội. Tiếp tục cải tiến cách đánh giá thi đua và công tác khen thưởng đảm bảo chính xác, thực chất.

5. Đổi mới, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng, bộ máy và cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng, phát huy vai trò tham mưu của cơ quan, cán bộ chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng các cấp.

Củng cố, kiên toàn Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp theo quy định. Phát huy vai trò, trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên Hội đồng. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, trình độ; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu đổi mới và thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
 
Với tinh thần “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, nối tiếp truyền thống cách mạng vẻ vang của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong 85 năm qua, Đại hội thi đua yêu nước và biểu dương “Nông dân điển hình tiên tiến” toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IV kêu gọi toàn thể cán bộ, hội viên, nông dân cả nước phát huy những kết quả đã đạt được, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa các phong trào thi đua yêu nước do Hội phát động, lập nhiều thành tích xuất sắc chào mừng các ngày lễ trọng đại của đất nước; chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng và kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam; thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

 
Nơi nhận:
- Hội đồng Thi đua - Khen thưởng TW;
- Uỷ ban TW MTTQ VN;
- Ban Dân vận TW, Ban Tuyên giáo TW;
- Ban Thi đua - Khen thưởng TW;
- Các đ/c Uỷ viên BCH TW Hội; 
- Hội Nông dân các tỉnh, thành phố;
- Các ban, đơn vị Trung ương Hội,
- Lưu.
    T/M BAN THƯỜNG VỤ
             CHỦ TỊCH
 
 
             (Đã ký)
 
 
  Nguyễn Quốc Cường
Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ?

Quan tâm nhiều nhất
Liên kết nhanh
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây